https://tapchikhcnnd.mod.gov.vn/index.php/tckhcnnd/issue/feedTạp chí Khoa học và Công nghệ Nhiệt đới2026-09-09T00:00:00+07:00TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NHIỆT ĐỚItoasoan@tapchikhcnnd.com.vnOpen Journal Systems<p style="text-align: justify;">Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nhiệt đới (TCKH&CNND) là tạp chí khoa học đa ngành của Trung tâm Nhiệt đới Việt – Nga. Tạp chí là nơi công bố, giới thiệu các công trình nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực khoa học và công nghệ nhiệt đới và các ngành có liên quan phục vụ nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và đào tạo cán bộ. Bên cạnh đó, Tạp chí còn là một kênh, một phương tiện hữu hiệu để quảng bá hình ảnh của Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga, một cơ quan nghiên cứu khoa học đa ngành, đa lĩnh vực có sự hợp tác với nước ngoài.</p>https://tapchikhcnnd.mod.gov.vn/index.php/tckhcnnd/article/view/881Phân tích hình thái, cấp độ hạt và sự phát thải tầm xa của bụi mịn trong môi trường không khí tại khu vực ngoại thành Thành phố Hà Nội2026-05-30T10:21:37+07:00TS Bùi Duy Linhbuiduylinh1105@gmail.comNguyễn Đức ThắngPGS.TS Hoàng Anh LêNguyễn Thị NăngNghiên cứu này đánh giá biến động theo mùa, đặc điểm hình thái và nguồn gốc vận chuyển của bụi mịn PM2.5 tại một điểm quan trắc thuộc khu vực ngoại thành Hà Nội trong giai đoạn mùa khô và mùa mưa năm 2025. Mẫu PM2.5 được thu bằng thiết bị lấy mẫu bụi thể tích lớn (Tisch Environment, Inc.), sau đó phân tích hình thái hạt bằng kính hiển vi điện tử quét (SEM) và đánh giá nguồn vận chuyển bằng mô hình quỹ đạo ngược HYSPLIT. Kết quả quan trắc cho thấy nồng độ PM2.5 trung bình mùa khô đạt 104,68 ± 64,83 µg/m³, vượt đáng kể giới hạn QCVN 05:2023/BTNMT, trong khi mùa mưa duy trì ở mức thấp hơn là 46,41 ± 20,02 µg/m³. Phân tích hình thái học cho thấy trong mùa khô, các hạt kích thước 0,1 - 1,0 µm chiếm tỷ lệ cao nhất (80,7%) chủ yếu tồn tại dưới dạng kết tụ chuỗi và cụm đặc trưng cho nguồn phát thải đốt cháy. Ngược lại, mùa mưa cho thấy vai trò quan trọng của quá trình lắng đọng ướt trong việc loại bỏ các hạt siêu mịn (<0,1 µm) khỏi khí quyển. Kết quả mô hình HYSPLIT khẳng định ô nhiễm mùa khô chịu tác động mạnh bởi sự tích tụ bụi từ các khối khí lục địa di chuyển đường dài trên đất liền từ phía Bắc, trong khi gió mùa Tây Nam/Đông Nam mang theo khối khí biển sạch giúp pha loãng ô nhiễm trong mùa mưa. Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học thực nghiệm về mối liên hệ chặt chẽ giữa điều kiện khí tượng, đặc điểm vi mô của hạt và mức độ ô nhiễm không khí đô thị.Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đớihttps://tapchikhcnnd.mod.gov.vn/index.php/tckhcnnd/article/view/890Nghiên cứu tác động của điều kiện khí tượng nhiệt đới đối với hoạt động của phương tiện bay không người lái ở Việt Nam2026-05-11T01:47:52+07:00Phạm Ngọc Báchbach50mta@gmail.comTrần Quang ĐứcTrịnh Lê HùngPhương tiện bay không người lái (UAV) ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong cả lĩnh vực quân sự và dân sự. Tại Việt Nam, điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặc trưng mưa lớn, gió mạnh và nhiệt độ cao đặt ra nhiều thách thức đối với khả năng hoạt động bay. Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của điều kiện khí tượng nhiệt đới đến khả năng bay của UAV tại Việt Nam và khu vực Biển Đông. Ba yếu tố chính được xem xét gồm nhiệt độ không khí, tốc độ gió và lượng mưa, với hai nhóm UAV đại diện: UAV phổ thông (CD) và UAV chịu thời tiết (WRD). Kết quả cho thấy khả năng bay của CD trên đất liền chỉ đạt tối đa 52,7% trong điều kiện bay cả ngày đêm và thấp hơn trên biển, trong khi WRD duy trì mức rất cao, gần 100% trên đất liền. Lượng mưa là yếu tố hạn chế chính đối với CD, còn nhiệt độ không ảnh hưởng đáng kể. Khả năng bay của CD biến động rõ theo không gian và mùa, thuận lợi hơn ở phía Nam và trong mùa đông–xuân, bất lợi nhất vào mùa hè do tần suất mưa gia tăng. Đáng chú ý, việc nâng ngưỡng chịu mưa từ 0 lên 1 mm/h có thể làm tăng khả năng bay trung bình từ 39,1% lên 92,8%, cho thấy khả năng chịu mưa là yếu tố cải tiến kỹ thuật then chốt đối với khu vực nhiệt đới. Kết quả cung cấp cơ sở khoa học cho thiết kế UAV, tối ưu hóa kế hoạch bay và xây dựng chính sách phù hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới.Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đớihttps://tapchikhcnnd.mod.gov.vn/index.php/tckhcnnd/article/view/963So sánh mô hình hồi quy CORVI với các thuật toán học máy và học sâu trong ước tính sinh khối rừng ngập mặn trên mặt đất từ dữ liệu Sentinel-1 và Sentinel-2 tại miền Bắc Việt Nam2026-08-02T02:15:41+07:00ThS. Nguyễn Văn ThịPGS.TS. Nguyễn Hải Hòabmktmt@vnuf.edu.vnTS. Đinh Bá DuyThS. Ngô Thành ĐạtRừng ngập mặn (RNM) là hệ sinh thái ven biển có chức năng bảo vệ bờ biển, duy trì đa dạng sinh học và tích lũy các-bon xanh. Sinh khối trên mặt đất (AGB) là chỉ tiêu cơ bản để ước tính trữ lượng các-bon rừng, nhưng điều tra thực địa cần nhiều thời gian, chi phí lớn và khó mở rộng trên phạm vi lớn. Nghiên cứu so sánh mô hình hồi quy CORVI dạng lũy thừa với các thuật toán học máy và học sâu gồm Random Forest (RF), Cubist, Support Vector Machine (SVM), eXtreme Gradient Boosting (XGBoost) và Convolutional Neural Network (CNN) trong ước tính AGB RNM tại miền Bắc Việt Nam. Dữ liệu thực địa gồm 322 OTC phân bố tại Quảng Ninh, Hải Phòng, Hưng Yên và Ninh Bình. AGB được tính từ các chỉ tiêu đo đạc thực địa theo loài hoặc nhóm loài và quy đổi về đơn vị Mg/ha. Các biến đầu vào gồm dữ liệu Sentinel-1, Sentinel-2 và chỉ số kết hợp quang học–Radar CORVI. Độ chính xác mô hình được kiểm định chéo 5-fold thông qua thông qua các chỉ tiêu: R², RMSE, MAE và Bias. Kết quả cho thấy, trong kịch bản CORVI đơn biến với mô hình hồi quy lũy thừa đạt hiệu quả kiểm định ổn định nhất hoặc tương đương nhóm mô hình tốt nhất, với R² = 0,6056 ± 0,0647, RMSE = 27,9263 ± 1,2988 Mg/ha và MAE = 23,0128 ± 1,4570 Mg/ha. RF và XGBoost có nguy cơ quá khớp khi thông tin đầu vào bị giới hạn. Nghiên cứu khẳng định CORVI là biến tích hợp có giá trị trong mô hình hóa AGB rừng ngập mặn, nhưng cần được kết hợp với các biến quang học, radar, đặc trưng không gian và điều kiện lập địa để nâng cao khả năng dự báo ở quy mô rộng.Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đớihttps://tapchikhcnnd.mod.gov.vn/index.php/tckhcnnd/article/view/922Nghiên cứu phân lập tế bào trần rong cải biển (Ulva lactuca) thu thập tại Việt Nam2026-05-25T10:00:05+07:00Phạm Thị Mátdiu.biotb@gmail.comLê Thanh TùngNguyễn Văn NguyênCông nghệ tế bào trần là một hướng tiếp cận quan trọng trong công nghệ sinh học thực vật và rong biển, cho phép tạo lượng lớn nguồn giống sạch và đồng nhất phục vụ nuôi trồng. Trong đó, việc phân lập tế bào trần quyết định thành công của công nghệ. Bài báo này tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố chính trong quá trình phân lập tế bào trần rong cải biển U. lactuca như điều kiện khử trùng, loại enzyme, nồng độ và thời gian sử dụng enzyme để phá vỡ thành tế bào. Kết quả cho thấy, dung dịch natri hypochlorite (NaOCl) 0,5% cho hiệu quả khử trùng tốt nhất với tỷ lệ mẫu sống đạt 90% và mẫu sạch đạt 80%. Bảy loại enzyme khác nhau được thử nghiệm bao gồm cellulase Onozuka R -10, cellulase ((Merck-Sigma), driselase (Merck-Sigma), hemicellulase (Merck-Sigma), pectinase (Novozyme), cellulast (Novozyme) và Viscozyme (Novozyme) cho thấy hiệu quả phân giải thành tế bào có sự khác biệt rõ rệt (p < 0,05). Enzyme cellulase (Onozuka R-10) cho hiệu suất phân lập cao nhất, đạt 3,68 × 10⁶ tế bào trần/g khối lượng tươi. Nồng độ và thời gian xử lý enzyme cũng ảnh hưởng rõ rệt và có xu hướng tỷ lệ thuận với hiệu quả tế bào trần trong ngưỡng giới hạn. Nồng độ enzyme sử dụng thích hợp nhất là 2% với thời gian xử lý 2 giờ. Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện cơ sở khoa học cho sản xuất giống rong biển nói chung và rong cải biển nói riêng bằng công nghệ tế bào trần.Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đớihttps://tapchikhcnnd.mod.gov.vn/index.php/tckhcnnd/article/view/997Potential Distribution Modeling of Dipterocarpus obtusifolius in Gia Lai Province, Vietnam: An Application of Maxent for Dry Dipterocarp Forest Conservation2026-08-14T07:01:49+07:00TS Dang Hung Cuongdanghungcuong@gmail.comGS Nguyen Dang HoiDang Ngoc HuyenNguyen Huu HiepChau Bao DuyNguyen Thi Tuyet NhungRừng khộp (dry dipterocarp forests) là hệ sinh thái rụng lá theo mùa có giá trị sinh thái cao trên khắp Đông Nam Á lục địa, nhưng đã suy giảm đáng kể tại tỉnh Gia Lai do khai thác gỗ và chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Dipterocarpus obtusifolius (Dầu trà beng) là loài ưu thế, có khả năng chịu lửa trong kiểu sinh cảnh này và được ưu tiên cho công tác phục hồi. Trong bài báo này đã xây dựng các mô hình phân bố loài chỉ sử dụng dữ liệu hiện diện (MaxEnt) để lập bản đồ sinh cảnh tiềm năng của loài và hỗ trợ ưu tiên không gian cho việc tái trồng rừng. Sử dụng 119 điểm ghi nhận hiện diện và 19 biến khí hậu sinh học (bioclimatic) từ WorldClim, nghiên cứu trước tiên hiệu chỉnh mô hình đầy đủ để đánh giá tầm quan trọng tương đối của các biến, sau đó hiệu chỉnh lại một mô hình rút gọn (reduced model) với bảy biến dự báo hàng đầu. Cả hai mô hình đều thể hiện hiệu suất xuất sắc: chỉ số AUC trên tập kiểm tra (test AUC) đạt 0,9294 (mô hình 19 biến) và 0,9311 (mô hình 7 biến), với giá trị TSS trung bình xấp xỉ 0,83 cho cả hai. Các yếu tố dự báo có ảnh hưởng nhất bao gồm nhiệt độ trung bình của quý ẩm ướt nhất (BIO08; đóng góp 28,7%) và nhiệt độ tối đa của tháng nóng nhất (BIO05; 22,1%), trong khi lượng mưa của tháng khô nhất (BIO14) thể hiện mức độ quan trọng khi hoán vị (permutation importance) cao nhất (66,7%), nhấn mạnh độ nhạy cảm của loài đối với điều kiện khí hậu trong mùa khô. Với ngưỡng “equate entropy” (cân bằng entropy), sinh cảnh phù hợp chiếm 18,47% diện tích Gia Lai trong mô hình đầy đủ và 19,22% trong mô hình rút gọn. Do đó, các bản đồ phù hợp sinh cảnh được tạo ra trong nghiên cứu này cung cấp nền tảng định lượng, cụ thể về không gian để xác định các khu vực có mức độ phù hợp khí hậu cao. Khi được tích hợp với dữ liệu về quyền sử dụng đất, hiện trạng sử dụng đất và các yếu tố khả thi, những bản đồ này có thể hỗ trợ việc ưu tiên không gian cho hoạt động trồng bổ sung (enrichment planting) và định hướng cho các kế hoạch phục hồi có tính đến biến đổi khí hậu đối với rừng khộp ở khu vực Tây Nguyên, Việt Nam.Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nhiệt đớihttps://tapchikhcnnd.mod.gov.vn/index.php/tckhcnnd/article/view/918Nghiên cứu tổng hợp kẽm undecylenat và đánh giá hiệu quả xử lý nước thải sau phản ứng bằng vật liệu composite MgAl-LDH@AC kết hợp polymer cation.2026-05-05T01:04:17+07:00Lê Huỳnh Nhihuynhnhituanan@gmail.comTS Hoàng Thanh Longhoangthanhlong.ndvn@gmail.comThS Nguyễn Thị Thu Xuânnguyenthithuxuan92@gmail.comTS Đoàn Thanh Vândoanvan.ttndvn@gmail.comThS Đinh Thị Vândinhthivan2004@gmail.comBài báo trình bày kết quả nghiên cứu tổng hợp kẽm undecylenat từ axit undecylenic, natri hydroxyt và kẽm clorua, đạt hiệu suất 98,85% và độ tinh khiết 98,92%, được xác nhận bằng FT-IR và Raman. Nước thải sau phản ứng đồng thời chứa ion kẽm (240,9 mg/L), độ mặn (4,5 ‰) và TOC cao (554,95 mg/L). Để xử lý nước thải này, vật liệu composite MgAl-LDH@AC được tổng hợp thành công bằng phương pháp đồng kết tủa và đặc trưng bằng XRD, SEM. Kết quả cho thấy vật liệu có khả năng loại ion kẽm và làm giảm độ mặn (thông qua việc loại bỏ ion clorua) thông qua cơ chế tương tác hóa học, với quá trình phù hợp mô hình động học giả bậc hai và đẳng nhiệt Langmuir, đạt dung lượng hấp phụ cực đại 82,78 mg/g (ion kẽm) và 29,15 mg/g (ion clorua). Khi kết hợp cation polyacrylamide, hiệu quả xử lý được nâng cao nhờ cơ chế keo tụ - tạo bông, giúp loại bỏ các chất hữu cơ phân tán. Kết quả xử lý nước thải thực tế cho thấy độ mặn của nước thải giảm khoảng 25%, nồng độ ion kẽm giảm xuống 2,08 mg/L (~99,1%), TOC còn 5,85 mg/L (~98,9%) và pH duy trì 6–8; các chỉ số về kim loại nặng, TOC và pH đáp ứng QCVN 40:2025/BTNMT. Kết quả chứng minh hệ MgAl-LDH@AC kết hợp polymer cation có khả năng xử lý đồng thời kim loại, anion và chất hữu cơ trong nước thải phức tạp.Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đớihttps://tapchikhcnnd.mod.gov.vn/index.php/tckhcnnd/article/view/934Effect of Graphene Functionalization on the Microwave Absorption Performance of Ni0.2Zn0.8Fe2O4/graphene Nanoplatelet Composites2026-06-17T08:30:23+07:00Ta Thu Trangtrang88py@gmail.comTS Tran Quang DatNguyen Nguyen LongTS Do Dinh TrungTS Dang Minh ThuyNguyen Van VinhLe Quoc PhamHa Minh NgocDoan Quy HieuDao Thanh ThuyTran Thi ToiIn this study, Ni0.2Zn0.8Fe2O4/graphene nanoplatelet (GNP) composites were prepared via a hydrothermal method for microwave absorption applications across the 2–18 GHz range. Graphene nanoplatelets (GNPs) were functionalized with hexamethylenediamine (HMDA) to modify their surface and facilitate the desponsition of ferrite nanoparticles . Structural and morphological analyses (XRD, SEM) confirmed the spinel ferrite formation and a superior distribution of nanoparticles on modified GNPs. Fourier transform infrared spectroscopy (FTIR) provided evidence for the surface functionalization of graphene through the appearance of characteristic aliphatic and nitrogen-containing bands. Raman spectra suggested surface modification of graphene and a closer morphological association between ferrite nanoparticles and graphene. Vibrating sample magnetometer (VSM) indicated soft magnetic behavior with optimized saturation magnetization. Crucially, frequency-dependent complex permittivity and complex permeability were investigated, showing that the HMDA-modified composites exhibit enhanced dielectric and magnetic loss tangents. Reflection loss (RL) analysis showed that the HMDA-modified graphene composite achieved a minimum RL of - 34 dB at 10 GHz with a thickness of 2.25 mm and a wide effective absorption bandwidth (EAB) of 4.24 GHz, outperforming the composite with unmodified graphene. The enhanced absorption performance is attributed to improved impedance matching and enhanced dielectric–magnetic loss mechanisms, which may be facilitated by the HMDA functionalization of graphene. These findings highlight the composite's potential as a radar-absorbing material.Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đớihttps://tapchikhcnnd.mod.gov.vn/index.php/tckhcnnd/article/view/988Results of Antifouling Coating Tests in Nha Trang Bay Using Wet Weight Measurements and Visual Method2026-07-20T10:16:57+07:00Khalaman Vyacheslav VyacheslavovichGlebova Irina BorisovnaShilova Olga AlekseevnaVoshchikov Vadim IvanovichKhamidulin Yaroslav AleksandrovichSokolov Georgy SergeevichTS Nguyen Van Chinguyenvanchirvtc@gmail.comData from marine field tests of epoxy-based anti-fouling coatings containing various biocidal additives are presented. Epoxy coatings free of highly toxic substances were used in the study. These coatings were exposed for two years in the sea at the "Dam Bay" marine research and testing station, located on Che Island in Nha Trang bay. Biofouling was classified to species, where possible. When species-level identification was not feasible, organisms were classified to higher taxonomic levels such as genus, family, class, or type. The number of individuals in each taxon was counted and the total biomass of all individuals of that taxon was measured. ImageJ software was applied to determine the biofouling area. Statistical analyses used included: ANOVA, with post-hoc pairwise comparisons of mean values using Fisher's LSD correction for multiple comparisons, PERMANOVA (using the Bray-Curtis similarity index with a prior logarithmic transformation of biomass data).The statistical significance of the influence of plate orientation and their arrangement on the cassettes on the intensity of marine fouling was assessed. This study demonstrated the advantage of the wet weight method over projective coverage analysis for evaluating environmentally friendly antifouling coatings after two years of exposure in a tropical marine environment, where area-based assessment is no longer effective. Epoxy coatings free of highly toxic substances were used in the study. of the wet weight method over projective coverage analysis for testing environmentally friendly antifouling coatings after two years of testing in a tropical climate, when assessment by fouling area is no longer effective.Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nhiệt đớihttps://tapchikhcnnd.mod.gov.vn/index.php/tckhcnnd/article/view/999Graphene-based Materials for Environmental Remediation: A Comprehensive Review2026-07-31T00:17:47+07:00PGS Nguyen Thi Hoai Phuonghoaiphuong.vrtc@gmail.comPGS La Duc Duongduc.duong.la@gmail.comTS Tran Van Chinhchinhpkkq@gmail.comTS Truong Ngoc Tuanngoctuan109@gmail.comNguyen Thi Thu Hangntthuhang2501@gmail.comCao Phuong Anhcaofuonganh@gmail.comPGS Nguyen Dinh DucGraphene-based materials have emerged as a versatile and powerful class of functional materials for environmental remediation due to their exceptional physicochemical properties and structural tunability. This comprehensive review critically summarizes recent advances in the synthesis, properties, and environmental applications of graphene and its derivatives, including graphene oxide, reduced graphene oxide, graphene nanoplatelets, and graphene-based composites. Emphasis is placed on elucidating the structure-property-performance relationships governing key remediation pathways, including adsorption, photocatalysis, and advanced oxidation processes. The roles of different synthesis routes, surface functionalization strategies, and rational composite design in enhancing pollutant-removal efficiency are systematically analyzed. Particular attention is given to graphene-enabled mechanisms for removing heavy metals, organic pollutants, and emerging contaminants from water and wastewater, highlighting synergistic effects arising from adsorption-catalysis coupling and enhanced charge-transfer behavior. In addition, recent progress in green synthesis approaches, magnetic and three-dimensional graphene architectures, and hybrid systems with metal oxides or metal-organic frameworks is discussed in the context of sustainability and practical applicability. Despite significant achievements, challenges related to material aggregation, scalability, cost, regeneration, and environmental safety remain barriers to large-scale implementation. This review concludes by identifying critical knowledge gaps and outlining future research directions to translate graphene-based remediation technologies from laboratory studies to real-world environmental applications. By providing an integrated and critical perspective, this work is intended to serve as a valuable reference for researchers and engineers developing next-generation graphene-based materials for sustainable environmental remediation.Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới