https://tapchikhcnnd.mod.gov.vn/index.php/tckhcnnd/issue/feedTạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới2026-06-23T08:38:28+07:00TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NHIỆT ĐỚIofficial@jtse.org.vnOpen Journal Systems<p>Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới (Tạp chí) là tạp chí khoa học chuyên ngành (tên quốc tế là Journal of Tropical Science and Engineering) do Trung tâm nhiệt đới Việt – Nga là cơ quan chủ quản. Tạp chí là nơi công bố, giới thiệu các công trình nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực khoa học và công nghệ nhiệt đới và các ngành có liên quan phục vụ nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và đào tạo cán bộ. Bên cạnh đó, Tạp chí còn là một kênh, một phương tiện hữu hiệu để quảng bá hình ảnh của Trung tâm Nhiệt đới Việt – Nga, một cơ quan nghiên cứu khoa học đa ngành, đa lĩnh vực có sự hợp tác với nước ngoài.</p>https://tapchikhcnnd.mod.gov.vn/index.php/tckhcnnd/article/view/673Tăng trưởng và tỷ lệ sống của hai loài san hô thuộc giống Acropora (A. muricata và A. robusta) trên các giá thể khác nhau tại Trạm thử nghiệm Đầm Báy, Vịnh Nha Trang2025-10-27T01:06:46+07:00Trần Đức Diễnmrtran_cnvb@yahoo.comSamoilov K. Y.Dudka K. K.Nguyễn Trịnh Đức HiệuĐặng Đỗ Hùng ViệtHoàng Thị Ngọc AnhNguyễn Phương LiênĐồng Văn KiênSự suy giảm nghiêm trọng quần thể san hô, đặc biệt ở các loài thuộc giống Acropora, đã nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết của công tác nhân giống và phục hồi rạn san hô. Trong đó, kỹ thuật vườn ươm dưới nước được xem là một phương pháp hiệu quả để bảo tồn và phục hồi các loài san hô tạo rạn quan trọng. Nghiên cứu này đánh giá tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của hai loài A. muricata và A. robusta sau gần một năm trồng phục hồi tại Trạm Nghiên cứu Biển Đầm Báy, Vịnh Nha Trang trên giá thể dây treo và cọc sắt trên rạn đá tự nhiên. Kết quả cho thấy, điều kiện môi trường tại khu vực nghiên cứu phù hợp cho việc trồng phục hồi, bảo tồn và duy trì vườn ươm san hô ở đây. Tỷ lệ sống của san hô trên giá thể dây treo đạt 68,09% (loài A. muricata), lên tới 100% (loài A. robusta); đối với giá thể cọc sắt trên rạn đá tự nhiên, tỷ lệ sống của 2 loài san hô thử nghiệm đều đạt 80%. Tốc độ tăng trưởng trên giá thể dây treo của loài A. muricata trung bình đạt 13,99 mm/tháng, loài A. robusta đạt 19,31 mm/tháng; đối với giá thể cọc sắt trên rạn đá tự nhiên, loài A. muricata có tốc độ tăng trưởng đạt 6,80 mm/tháng, loài A. robusta đạt 12,04 mm/tháng. Nghiên cứu này góp phần cung cấp dữ liệu thực nghiệm cho các chương trình phục hồi san hô, đồng thời mở ra hướng tiếp cận bền vững trong bảo tồn nguồn gen san hô tại Vịnh Nha Trang và các vùng biển lân cận.Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đớihttps://tapchikhcnnd.mod.gov.vn/index.php/tckhcnnd/article/view/876Đánh giá tác động của Cu²⁺ lên đáp ứng stress oxy hóa và sửa chữa DNA thông qua biểu hiện gene và protein trong phôi Cá ngựa vằn (Danio rerio)2026-04-08T03:35:39+07:00Ngô Văn Tuấnngotuanhbu@gmail.comTS Đặng Đăng Khoakhoadd@lhu.edu.vnTS Nguyễn Thị Thu Hằngnguyenthithuhang@pyu.edu.vnÔ nhiễm kim loại nặng, đặc biệt là Cu²⁺, trong môi trường nước là mối quan tâm toàn cầu. Nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá một cách có hệ thống các đáp ứng phân tử của phôi cá ngựa vằn (Danio rerio) khi tiếp xúc với các nồng độ Cu²⁺ khác nhau (0,1; 1,0 và 10,0 µg/L Cu²⁺) trong 24 giờ. Nghiên cứu tập trung vào các dấu ấn sinh học chính liên quan đến giải độc kim loại, đáp ứng tổn thương DNA và chống oxy hóa, bao gồm metallothionein 2 (mt2), các protein GADD45 (GADD45A, GADD45G) và các enzyme chống oxy hóa superoxide dismutase (SOD1, SOD2). Phương pháp Real-time PCR (qPCR) và Western blot được sử dụng đồng thời để phân tích cả mức độ phiên mã và dịch mã. Kết quả cho thấy mức biểu hiện của các gene (mt2, gadd45a, gadd45g, sod1, sod2) và các protein tương ứng (MT2, GADD45A, GADD45G, SOD1, SOD2) có đáp ứng rõ ràng theo nồng độ Cu²⁺. Ở nồng độ 10 µg/L Cu²⁺, biểu hiện của các gene mt2, gadd45g, sod1 và sod2 tăng mạnh ở mức độ mRNA (gấp 9,1 đến 17,5 lần), đồng thời mức protein tương ứng (MT2, GADD45G, SOD1 và SOD2) cũng tăng đáng kể (gấp 8,5 đến 15,8 lần). Ngược lại, gadd45a bị ức chế rõ rệt (giảm 11 lần ở mức độ mRNA), trong khi protein tương ứng (GADD45A) cũng giảm đáng kể (6,7 lần) ở nhóm 1,0 µg/L Cu²⁺. Sự tương đồng trong xu hướng biểu hiện gene và protein cho thấy các cơ chế đáp ứng chủ yếu được điều hòa ở mức độ phiên mã. Sự điều hòa trái ngược giữa GADD45A và GADD45G phản ánh một chiến lược thích nghi của tế bào nhằm cân bằng giữa sửa chữa DNA, sống sót và chết tế bào. Nghiên cứu này cung cấp dữ liệu nền tảng quan trọng cho đánh giá rủi ro sinh thái và sự hiểu biết sâu sắc hơn về cơ chế độc tính của Cu²⁺ ở cấp độ phân tử, đồng thời khẳng định vai trò của cá ngựa vằn như một mô hình sinh học nhạy cảm để giám sát ô nhiễm.Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đớihttps://tapchikhcnnd.mod.gov.vn/index.php/tckhcnnd/article/view/834Xây dựng mô hình dự báo nguy cơ nhiễm vi sinh vật trong thực phẩm đường phố dựa trên các yếu tố môi trường tại thành phố Hải Phòng2026-01-06T08:21:05+07:00Nguyễn Văn Quyênvanquyengvhd@gmail.comThực phẩm đường phố là lựa chọn tiện lợi nhưng tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm vi sinh vật do điều kiện chế biến ngoài trời và vệ sinh chưa đảm bảo. Tại Hải Phòng, sự gia tăng điểm bán cùng tác động của nhiệt độ, độ ẩm và bụi giao thông làm tăng nguy cơ nhiễm các tác nhân gây bệnh như Salmonella, Escherichia coli, Staphylococcus aureus và Coliforms. Nghiên cứu nhằm mô tả phân bố nguy cơ ô nhiễm vi sinh vật của một số nhóm thực phẩm đường phố tại Hải Phòng, đồng thời định lượng tác động của các yếu tố môi trường và thực hành vệ sinh để xây dựng mô hình dự báo phục vụ quản lý rủi ro. Nghiên cứu được tiến hành từ 01–08/2025 tại 250 điểm bán, thu thập dữ liệu về nhiệt độ, độ ẩm, bụi, mật độ giao thông, đặc điểm điểm bán và vệ sinh bằng bảng kiểm chuẩn hóa. Nguy cơ vi sinh được đánh giá theo phương pháp Qualitative Microbial Risk Assessment (QMRA) rút gọn kết hợp các chỉ dấu ô nhiễm (Coliforms, E. coli, Staphylococcus aureus, Salmonella spp.). Phân tích hồi quy logistic đa biến xác định các biến môi trường có ý nghĩa (p<0,05), trong khi mô hình cây quyết định với 12 biến đầu vào đạt độ chính xác kiểm tra chéo 83,6%. Kết quả cho thấy giám sát dựa trên yếu tố môi trường và thực hành vệ sinh là giải pháp chi phí thấp, khả thi trong quản lý rủi ro an toàn thực phẩm đường phố. Mô hình dự báo có độ chính xác cao, có thể ứng dụng hiệu quả tại Hải Phòng và các đô thị tương tự.Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đớihttps://tapchikhcnnd.mod.gov.vn/index.php/tckhcnnd/article/view/824Đánh giá tình trạng kháng kháng sinh của một số vi khuẩn phân lập từ cá chép Cyprinidae tại Cần Thơ và An Giang2026-01-05T09:46:11+07:00Bùi Thị Thanh Ngapvnhung0506@gmail.comPosouznykh OlgaKataeva LyubovLogacheva MariaStepanova TatyanaFattakhov RailNguyễn Ngọc TânLê Thị Lan AnhHoàng Đăng HiếuNghiên cứu này cung cấp dữ liệu thực tế về tình trạng kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn phân lập từ cá chép tại tỉnh Cần Thơ, An Giang, Việt Nam. Tổng cộng 200 mẫu (vẩy, da, mô cơ và các cơ quan nội tạng) từ cá chép được thu thập từ các ao hồ tự nhiên và một số cơ sở nuôi trồng thủy sản tại Cần Thơ, An Giang. Các mẫu được tiến hành làm sạch, khử trùng sau đó tiến hành đồng nhất và nuôi cấy phân lập trên các môi trường khác nhau. Các chủng vi khuẩn được định danh bằng hệ thống MALDI-TOF MS và đánh giá độ nhạy cảm với kháng sinh bằng phương pháp khuếch tán đĩa Kirby-Bauer. Kết quả chúng tôi đã phân lập được 607 chủng vi khuẩn đồng thời ghi nhận kiểu hình kháng kháng sinh ở nhiều nhóm vi khuẩn. Cụ thể, các chủng thuộc chi Enterobacter và Serratia có tỉ lệ kháng lên tới 90,6–100% với amoxicillin/acid clavulanic. Trong khi đó, Hafnia alvei thể hiện tỷ lệ kháng cao với cephalosporin thế hệ 3 (81,3%) và kháng trung bình với cephalosporin thế hệ 4 (25%). Ở vi khuẩn Pseudomonas spp. cho thấy sự đa kháng, các chủng vi khuẩn này thể hiện tính kháng 100% với ciprofloxacin, cephalosporin (thế hệ 3 và 4) và imipenem. Tương tự, toàn bộ chủng Acinetobacter được phân lập đều kháng ciprofloxacin (100%). Đối với chi Aeromonas, tỷ lệ kháng levofloxacin là 61,8%; đồng thời 34,7% chủng kháng với ít nhất một kháng sinh khác trong nhóm fluoroquinolone. Những phát hiện này phản ánh thực trạng kháng kháng sinh đang tồn tại ở các vi khuẩn phân lập từ động vật thủy sản cho thấy sự cần thiết của việc tiếp tục theo dõi và đánh giá tình trạng kháng kháng sinh trong lĩnh vực thủy sản.Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đớihttps://tapchikhcnnd.mod.gov.vn/index.php/tckhcnnd/article/view/827Khảo sát tác nhân vi sinh vật gây bệnh và đặc điểm kháng kháng sinh của vi khuẩn phân lập trên quần áo đã qua sử dụng bán tại chợ Đông Tác, Đống Đa, Hà Nội2025-12-28T05:37:46+07:00Mai Thùy Linhmaithuylinh17042004@gmail.comTrần Thị Hà AnBùi Minh NgọcMa Thị Huyềnmathihuyen@hmu.edu.vnHiện nay, quần áo đã qua sử dụng được yêu thích rộng rãi do tính độc lạ và ưu điểm về giá cả. Tuy nhiên, các sản phẩm này có thể chứa các vi sinh vật gây bệnh có tác động tiềm ẩn tới sức khỏe cộng đồng. Bên cạnh đó, tình trạng kháng kháng sinh của các loài vi sinh vật trên các sản phẩm này cũng là mối lo ngại. Khảo sát nhằm mục đích xác định sự có mặt của một số căn nguyên quan trọng trong lâm sàng cũng như một số căn nguyên gây nhiễm trùng cơ hội và khảo sát tình trạng kháng kháng sinh của các chủng Staphylococcus aureus phân lập được tại chợ Đông Tác, Đống Đa, Hà Nội. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 155 mẫu quần áo các loại bằng phương pháp nuôi cấy trực tiếp trên môi trường thạch dinh dưỡng và định danh bằng tính chất sinh hóa. Khảo sát tình trạng kháng kháng sinh và xác định MRSA bằng phương pháp khoanh giấy khuếch tán - Kirby-Bauer. Trong 155 mẫu quần áo được khảo sát có tới hơn 2/3 tổng số mẫu (n = 107) có chứa ít nhất một loài vi khuẩn hoặc nấm được phát hiện bằng phương pháp nuôi cấy. Trong đó, được ghi nhận nhiều nhất là chi Bacillus spp.với 56,1% (n = 87), tụ cầu vàng - Staphylococcus aureus chiếm 12,3% mẫu (n = 19). Nấm Mucor spp. được tìm thấy trên 9% mẫu (n = 14), Aspergillus spp.được tìm thấy trên 4,5% mẫu (n = 7), 3,2% (n = 5) Microsporum spp. và 1,3% mẫu (n = 2) phát hiện nấm Penicillin spp.. Khảo sát tình trạng kháng kháng sinh của 20 chủng vi khuẩn S. aureus (trên 19 mẫu quần áo) được phân lập cho thấy có 9 mẫu MRSA (Methicillin-resistant Staphylococcus aureus), các vi khuẩn S. aureus biểu hiện đa kháng với nhiều kháng sinh thông thường.Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đớihttps://tapchikhcnnd.mod.gov.vn/index.php/tckhcnnd/article/view/879Tạo dòng và bước đầu đánh giá mức độ biểu hiện của Hcp1 và AhpC tái tổ hợp của Burkholderia pseudomallei trong Escherichia coli2026-03-11T10:10:13+07:00Hoàng Đăng Hiếuhoang.dang.hieu.ls@gmail.comTrịnh Văn ToànNguyễn Văn ĐoàiBùi Thị Thanh NgaChử Lương LuânNguyễn Minh AnhNguyễn Kim NgânLê Thị Lan AnhVõ Viết CườngBệnh melioidosis là bệnh nhiễm trùng nguy hiểm do vi khuẩn Burkholderia pseudomallei gây ra. Các biểu hiện lâm sàng của bệnh không đặc hiệu, khiến việc chẩn đoán sớm medioidosis gặp nhiều khó khăn và dễ dẫn đến điều trị chậm trễ, làm tăng nguy cơ tử vong. Các xét nghiệm huyết thanh học sử dụng kháng nguyên tái tổ hợp được xem là hướng tiếp cận tiềm năng nhờ khả năng phát hiện nhanh kháng thể đặc hiệu kháng B. pseudomallei. Nhiều protein của vi khuẩn này đã được khảo sát nhằm phát triển kháng nguyên phục vụ chẩn đoán melioidosis. Trong số đó, Hcp1 và AhpC được đặc biệt quan tâm nhờ khả năng phản ứng đặc hiệu với kháng thể trong huyết thanh bệnh nhân. Nghiên cứu này nhằm tạo dòng và biểu hiện các gen Hcp1, AhpC, có kích thước lần lượt 510 bp và 549 bp, trong hệ biểu hiện Escherichia coli sử dụng vector pET32a(+). Vector mang cấu trúc dung hợp TrxA-His tag, nhằm cải thiện độ hòa tan của protein và tạo thuận lợi cho quá trình tinh sạch. Kết quả phân tích bằng SDS-PAGE và Western blot xác nhận sự biểu hiện của hai protein đích với kích thước tương ứng khoảng 36 kDa và 38 kDa. Khảo sát tính hòa tan ghi nhận sự khác biệt rõ rệt giữa hai protein: AhpC hiện diện chủ yếu ở dạng hòa tan, trong khi Hcp1 tập trung phần lớn ở phân đoạn không tan. Các kết quả này khẳng định tính khả thi của hệ thống biểu hiện, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải tối ưu điều kiện nuôi cấy để nâng cao khả năng thu nhận protein Hcp1 dạng hòa tan, tạo nền tảng cho các bước tinh sạch và phát triển kháng nguyên tái tổ hợp phục vụ cho chẩn đoán trong các nghiên cứu tiếp theo.Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đớihttps://tapchikhcnnd.mod.gov.vn/index.php/tckhcnnd/article/view/755Thông tin kết quả nghiên cứu công nghệ chế tạo than hoạt tính tẩm kim loại Cu-Ag-Cr quy mô pilot xử lý khí hydro sunfua và amoniac trong không khí2025-09-29T14:30:10+07:00Thạc sĩ Nguyễn Trọng Nghĩanghiamta1117@gmail.comKỹ sư Nguyễn Hữu ĐôngKỹ sư Dương Quốc BảoTiến sĩ Đỗ Văn QuýThạc sĩ Nguyễn Hùng TháiTS Vũ Trần DươngTS Hà Ngọc ThiệnNghiên cứu trình bày quy trình chế tạo than hoạt tính tẩm Cu-Ag-Cr trên hệ thiết bị tẩm sấy chân không quy mô pilot ứng dụng trong xử lý khí NH3 và H2S trong môi trường khép kín trên tàu ngầm. Quy trình tẩm thực hiện ở áp suất -0,09 Mpa trong thời gian 60 phút, sau đó hoạt hóa ở nhiệt độ 175 ± 5oC trong thời gian 120 phút. Kết quả cho thấy, than hoạt tính tẩm Cu-Ag-Cr có chất lượng đồng đều và độ ổn định cao, hiệu suất tẩm kim loại đạt 95,58% (Cu), 93,25% (Cr) và 88,97% (Ag). Dung lượng hấp phụ khí NH3 và H2S của than hoạt tính lần lượt đạt 102 mg/g và 200 mg/g. Than hoạt tính tẩm Cu-Ag-Cr chế tạo theo quy trình đáp ứng đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật trong chế tạo phin lọc FK-U2 xử khí NH3 và H2S, góp phần bảo đảm sức khỏe thủy thủ và hiệu suất vận hành thiết bị trên tàu ngầm.Copyright (c) 2025 Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới