https://tapchikhcnnd.mod.gov.vn/index.php/tckhcnnd/issue/feed Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới 2026-03-19T02:10:29+00:00 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NHIỆT ĐỚI official@jtse.org.vn Open Journal Systems <p>Tạp ch&iacute; Khoa học v&agrave; C&ocirc;ng nghệ nhiệt đới (Tạp ch&iacute;) l&agrave; tạp ch&iacute; khoa học chuy&ecirc;n ng&agrave;nh (t&ecirc;n quốc tế l&agrave; Journal of Tropical Science and Engineering) do Trung t&acirc;m nhiệt đới Việt &ndash; Nga l&agrave; cơ quan chủ quản. Tạp ch&iacute; l&agrave; nơi c&ocirc;ng bố, giới thiệu c&aacute;c c&ocirc;ng tr&igrave;nh nghi&ecirc;n cứu khoa học trong lĩnh vực khoa học v&agrave; c&ocirc;ng nghệ nhiệt đới v&agrave; c&aacute;c ng&agrave;nh c&oacute; li&ecirc;n quan phục vụ nghi&ecirc;n cứu khoa học, chuyển giao c&ocirc;ng nghệ v&agrave; đ&agrave;o tạo c&aacute;n bộ. B&ecirc;n cạnh đ&oacute;, Tạp ch&iacute; c&ograve;n l&agrave; một k&ecirc;nh, một phương tiện hữu hiệu để quảng b&aacute; h&igrave;nh ảnh của Trung t&acirc;m Nhiệt đới Việt &ndash; Nga, một cơ quan nghi&ecirc;n cứu khoa học đa ng&agrave;nh, đa lĩnh vực c&oacute; sự hợp t&aacute;c với nước ngo&agrave;i.</p> https://tapchikhcnnd.mod.gov.vn/index.php/tckhcnnd/article/view/669 Nghiên cứu hoạt tính sinh học và khả năng ứng dụng chiết xuất lá trầu không (Piper Betle L.) trong lớp phủ chống bám bẩn sinh học 2025-08-30T02:26:30+00:00 Nguyễn Đức Anh nda.ttndvn@gmail.com TS Cao Nhật Linh Lê Thị Mỹ Hiệp Đồng Văn Kiên Nguyễn Thị Hồng Xanh Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu khả năng sử dụng chiết xuất lá trầu không (Piper betle L.) với vai trò là một loại phụ gia kháng khuẩn cho lớp phủ chống bám bẩn sinh học thân thiện với môi trường. Hoạt chất sinh học của chiết xuất được xác định qua hàm lượng phenolic tổng số. Kết quả cho thấy hàm lượng phenolic tổng số trong chiết xuất đạt 260,3 mg GAE/g chất khô. Hoạt tính kháng khuẩn của chiết xuất được đánh giá bằng phương pháp khuếch tán trên đĩa thạch. Độc tính sinh học được đánh giá trên ấu trùng Artemia salina. Kết quả cho thấy, chiết xuất lá trầu không có hoạt tính kháng khuẩn cao đối với quần xã vi sinh vật biển với đường kính vòng kháng khuẩn đạt 35,1 ± 0,5 mm. Độc tính sinh học của chiết xuất đối với ấu trùng Artemia salina ở mức độ trung bình (LC50 > 100 µg/mL). Kết quả thử nghiệm tự nhiên trong môi trường nước biển trong điều kiện tĩnh cho thấy, việc bổ sung chiết xuất lá trầu không vào thành phần lớp phủ trên cơ sở acrylic copolymer giúp tăng đáng kể hiệu quả chống bám bẩn sinh học của lớp phủ. Tuy nhiên, ở điều kiện thử nghiệm động (thử nghiệm quay) hiệu quả chống bám bẩn của lớp phủ chứa chiết xuất thấp hơn đáng kể so với lớp phủ có sử dụng Cu2O Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới https://tapchikhcnnd.mod.gov.vn/index.php/tckhcnnd/article/view/783 Đóng góp từ bộ mẫu họ ốc cạn Pupinidae (Gastropoda: Cyclophoroidea) ở khu vực Tam Chúc, tỉnh Ninh Bình, với những ghi nhận mới cho khu hệ động vật Việt Nam 2025-11-14T09:15:38+00:00 Đào Hoàng Nam hoangnambio2808@gmail.com Vũ Hoàng Lâm vuhoanglam4work@gmail.com TS Đỗ Đức Sáng do.ducsang@hus.edu.vn Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 11/2024 đến tháng 9/2025 nhằm xác định thành phần loài, đặc điểm phân bố và hình thái phân loại của các loài thuộc họ ốc cạn Pupinidae Pfeiffer, 1853 ở khu vực Tam Chúc, tỉnh Ninh Bình. Các mẫu vật được đối chiếu, so sánh với mô tả gốc và mẫu chuẩn. Kết quả ghi nhận được 7 loài và phân loài thuộc 3 giống (Chuatienpupa Do & Nguyen, 2023, Pupina Vignard, 1829 và Tylotoechus Kobelt & Möllendorff, 1897). Trong đó, loài Pupina limitanea Godwin-Austen, 1897 được ghi nhận lần đầu tiên cho khu hệ động vật Việt Nam; Chuatienpupa megacanalis Do & Nguyen, 2023 và Pupina verneaui Dautzenberg & Fischer, 1906 là ghi nhận mới cho tỉnh Ninh Bình; loài Pupina brachysoma Ancey, 1904 được phát hiện lại sau 121 năm kể từ mô tả đầu tiên. Phân tích hình thái cho thấy các loài thuộc họ Pupinidae tại Tam Chúc thể hiện sự đa dạng đáng kể về hình dạng vỏ, tấm đỉnh, tấm trụ, các kênh dẫn và số vòng xoắn, phản ánh khả năng thích nghi với điều kiện vi khí hậu ẩm, nhiều khe đá và hang hốc đặc trưng của hệ sinh thái núi đá vôi. Những dẫn liệu thu được góp phần hoàn thiện cơ sở dữ liệu của họ Pupinidae ở Việt Nam, đồng thời tạo nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo về phân loại, tiến hóa, quan hệ phát sinh chủng loại và lịch sử phát tán của họ ốc cạn này. Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới https://tapchikhcnnd.mod.gov.vn/index.php/tckhcnnd/article/view/767 Đặc điểm nền đáy và tính đa dạng loài san hô cứng tạo rạn ở khu vực Hòn Chồng - Đặng Tất, Vịnh Nha Trang 2025-10-27T01:20:29+00:00 Đặng Đỗ Hùng Việt vietbio310@gmail.com Ths Hoàng Ngọc Lâm TS Trần Đức Diễn Yoko Nozawa Fukami Hironobu Nguyễn Phương Liên Ths Võ Thị Hà Nguyễn Đức Minh Tân Phạm Ngọc Thưởng Rạn san hô Hòn Chồng - Đặng Tất là một hệ sinh thái biển ven bờ quý giá và là khu vực rạn san hô gần bờ cuối cùng còn sót lại ở Vịnh Nha Trang. Hệ sinh thái này bao gồm nhiều hợp phần sinh học và phi sinh học, trong đó, san hô cứng tạo rạn (Scleractinia) đóng vai trò then chốt là tác nhân kiến tạo và cung cấp khung sườn cấu trúc phức tạp. Kết quả khảo sát năm 2024 cho thấy tình trạng tổng thể của rạn ở mức Trung bình với độ phủ san hô cứng trung bình đạt 32,4 ± 3,17 %. Về độ phủ các hợp phần đáy, khu vực Hòn Chồng cho thấy sức khỏe tốt hơn với nền đáy chủ yếu san hô cứng (35,97 ± 5%), cát (23,94 ± 4,67%) và san hô chết (16,57 ± 2,33%). Điểm HC2 đạt độ phủ vượt trội (65,7 ± 7%), chiếm ưu thế bởi san hô cành và bàn tăng trưởng nhanh (Acropora, Montipora). Ngược lại, khu vực Đặng Tất có tỷ lệ san hô chết (17,02 ± 3,67%) và vụn san hô (12,93 ± 2,67%) cao hơn dù điểm DT3 vẫn đạt độ phủ cao (50,3 ± 2%), phản ánh mức độ biến động môi trường lớn hơn trong quá khứ. Nghiên cứu đã xác định được 73 taxa san hô cứng thuộc 12 họ. Cấu trúc rạn cho thấy sự chiếm ưu thế của họ Acroporidae (chiếm ≈ 35,1% taxa), nhóm san hô nhạy cảm nhưng tăng trưởng nhanh, cùng với sự hiện diện ổn định của các nhóm tạo khung sườn bền vững (như Faviidae và Poritidae). Sự cân bằng này tạo nên một hệ sinh thái có cấu trúc phức tạp và khả năng phục hồi cao. Dựa trên dữ liệu độ phủ cao và sự hiện diện của san hô con non, các khu vực HC2 và DT3 được đề xuất là khu vực ưu tiên bảo vệ cấp thiết nhằm duy trì "ngân hàng gen" san hô và thúc đẩy quá trình phục hồi sinh học cho toàn Vịnh Nha Trang. Copyright (c) 2025 Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới https://tapchikhcnnd.mod.gov.vn/index.php/tckhcnnd/article/view/775 Nghiên cứu xác định kháng sinh meropenem trong mẫu huyết tương bằng phương pháp huỳnh quang sử dụng tổ hợp CQDs/AuNPs 2025-11-14T09:46:23+00:00 Nguyễn Tuấn Minh nguyentuanminh1303@gmail.com Phạm Thị Ngọc Mai m.t.n.pham@gmail.com Nguyễn Diệu Phương dieuphuong1905@gmail.com Vũ Anh Phương Vuanhphuong86@gmail.com Nguyễn Thu Phương nguyenthuphuong1699@gmail.com Đỗ Thị Trang Dotrang9912@gmail.com Trần Thị Minh Trang tranthiminhtrang_t66@hus.edu.vn Mạc Hải Nam 23000455@hus.edu.vn Nghiên cứu hướng tới phát triển qui trình xác định nồng độ kháng sinh meropenem dựa trên tín hiệu độ phục hồi huỳnh quang của hệ vật liệu nano bao gồm chấm lượng tử carbon và hạt nano vàng (CQDs/AuNPs). Dung dịch CQDs có khả năng phát huỳnh quang rất mạnh, nhưng cường độ huỳnh quang của dung dịch giảm mạnh khi có mặt AuNPs do xảy ra hiện tượng truyền năng lượng cộng hưởng giữa AuNPs và CQDs. Khi meropenem được thêm vào hệ CQDs/AuNPs, meropenem tương tác mạnh với các hạt nano vàng (AuNPs) và tách CQDs ra khỏi bề mặt AuNPs, từ đó phục hồi tín hiệu huỳnh quang của hệ. Tại các điều kiện tối ưu (pH 2, CuSO4 0,1 mM), hệ CQDs/AuNPs cho thấy khả năng hiệu quả trong việc định lượng meropenem ở mức nồng độ rất thấp (ppb) chỉ sau 8 phút ủ. Kết quả đã chứng minh mối tương quan tuyến tính giữa tín hiệu huỳnh quang phục hồi và nồng độ meropenem trong khoảng từ 2×10⁻⁸ M đến 5×10⁻⁶ M. Phương pháp đã được áp dụng thành công để định lượng hàm lượng meropenem trong mẫu huyết tương người. Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới https://tapchikhcnnd.mod.gov.vn/index.php/tckhcnnd/article/view/680 Đánh giá tác dụng giảm đau và sưng nề của màng ghép fibrin giàu tiểu cầu sau phẫu thuật răng số 8 hàm dưới 2025-07-31T02:03:05+00:00 Bác sỹ chuyên khoa 1 Nguyễn Thị Hưởng huongnt23.06.86@gmail.com Nguyễn Thành Trung Phạm Ngọc An Cấn Thị Chung Hà Thị Kiều Trang Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác dụng giảm đau và sưng nề của màng Fibrin giàu tiểu cầu PRF sau phẫu thuật răng 8 hàm dưới. Màng PRF được tạo thành bằng cách lấy máu tự thân của người bệnh ly tâm với tốc độ 1800 vòng/phút trong 8 phút để đạt được nồng độ các yếu tố tăng trưởng ở mức tối ưu và ghép vào huyệt ổ răng vừa điều trị, tiến hành khâu miệng vết thương bằng chỉ tự tiêu catgut. Nghiên cứu tiến hành trên 120 lượt bệnh nhân có chỉ định nhổ răng số 8 hàm dưới và chia làm 2 nhóm có và không sử dụng PRF dụng sau phẫu thuật. Các bệnh nhân được đánh giá theo tiêu chí: Mức độ đau theo thang điểm VAS, độ sưng má, độ khít hàm. Kết quả cho thấy nhóm sử dụng PRF có mức độ giảm đau tốt hơn, độ sưng má ít hơn và tình trạng khít hàm thấp hơn có ý nghĩa thống kê vào các ngày thứ 2, 3, 4 sau điều trị so với nhóm không sử dụng (p<0,05). Như vậy, nghiên cứu của chúng tôi đã cho thấy sử dụng PRF ghép vào huyệt ổ răng sau nhổ răng số 8 có tác dụng làm giảm đau, giảm sưng má theo chiều dọc và ngang, đồng thời giúp bệnh nhân há miệng được tốt hơn, rút ngắn thời gian hồi phục vết thương so với thông thường. Copyright (c) 2025 Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới https://tapchikhcnnd.mod.gov.vn/index.php/tckhcnnd/article/view/706 Đánh giá tác dụng phục hồi chức năng khứu giác của cao chiết Xuyên Tâm Liên (Andrographis paniculata) trên mô hình chuột bị tổn thương khứu giác bởi methimazole 2025-08-29T08:12:36+00:00 Master's degree Đào Nguyên Mạnh daonguyenmanh0209@gmail.com TS Võ Viết Cường cuongvrtc@gmail.com Thạc sĩ Trần Thanh Tuấn tranthanhtuan010182@gmail.com Bachelor's degree Bùi Thị Hương huong1971qn@gmail.com Thạc sĩ Quách Thị Quỳnh quynhqt.ndvn@gmail.com PGS Phạm Thị Nguyệt Hằng pnhang2004@yahoo.com Phí Đình Uy Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác dụng phục hồi chức năng khứu giác của cao chiết Xuyên Tâm Liên (Andrographis paniculata) trên mô hình chuột bị tổn thương biểu mô khứu giác do methimazole gây ra. Cao chiết Xuyên Tâm liên thu được bằng cách chiết hồi lưu với dung môi trích ly EtOH:H2O (8:2, w/w). Chuột nhắt trắng đực, chủng Swiss albino bị gây tổn thương biểu mô khứu giác bằng cách tiêm phúc mạc với methimazole liều 50 mg/kg. Sau khi gây mô hình tổn thương, chuột được điều trị bằng cao chiết Xuyên Tâm Liên (liều uống 150 và 300 mg/kg/ngày) và donepezil (tiêm phúc mạc 1,5 mg/kg/ngày). Từ ngày thứ 7 sau điều trị, tiến hành đánh giá tác dụng phục hồi chức năng khứu giác qua hành vi tìm kiếm mùi, sau khi kết thúc thử nghiệm hành vi thần kinh, tiến hành rửa giải não, tách lớp biểu mô, nhuộm H&E, phân tích mô học biểu mô khứu giác và đo độ dày biểu mô khứu giác. Kết quả cho thấy, cao chiết Xuyên Tâm Liên (liều 150 và 300 mg/kg/ngày) có tác dụng cải thiện chức năng khứu giác bằng thử nghiệm tìm kiếm mùi, giúp rút ngắn thời gian tìm kiếm mùi (p < 0,05), tăng thời gian và số lần chuột ở vùng đích so với nhóm bệnh lý; cải thiện rõ rệt độ dày và cấu trúc biểu mô khứu giác. Kết quả còn cho thấy, ở liều thấp (150 mg/kg) kết quả phục hồi chức năng và biểu mô khứu giác tốt hơn so với ở liều cao (300 mg/kg). Từ những kết quả trên cho thấy, cao chiết Xuyên Tâm Liên có tác dụng phục hồi chức năng khứu giác trên chuột bị tổn thương do methimazole, tác dụng thể hiện rõ hơn ở liều thấp (150 mg/kg). Copyright (c) 2025 Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới https://tapchikhcnnd.mod.gov.vn/index.php/tckhcnnd/article/view/801 Sàng lọc hoạt tính gây độc tế bào ung thư của các loài vi tảo và vi khuẩn lam thu tại Nghệ An 2025-11-26T12:52:14+00:00 Phạm Ngọc Khanh Nguyễn Trọng Dân Dương Thị Thuỷ Nguyễn Thị Thu Liên Nguyễn Thị Minh Hằng Trần Hữu Giáp Nguyễn Thị Thu Hà Nguyễn Thị Tú Oanh Đỗ Thị Thảo Nhiệm Nguyễn Xuân nxnhiem@yahoo.com Từ các mẫu nước thu mẫu ở 5 thuỷ vực ở khu vực Nghệ An, đã phân lập được 19 chủng vi tảo và vi khuẩn lam. Các mẫu được định danh là Chlorella vulgaris, Aphanizomenon sp., Microcystis aeruginosa, Scenedesmus acuminatus, Anabaena sp., Anabaena circinalis, Microcystis wesenbergii, Nostoc calcicola, Aphanizomenon flos-aquae,Cyclotella sp., Amphora sp., Spirulina platensis, Spirulina maxima, Microcystis sp.XO1, Hapalosiphon welwitschii, Westiellopsis prolifica, Mastigocladus sp., Nostoc sp4. và Nostoc sp5. Các chủng vi tảo được nuôi nhân sinh khối, tạo cao chiết MeOH và sau đó đánh giá tác dụng gây độc tế bào trên các dòng tế bào ung thư phổi (SK-LU-1) và ung thư gan (HepG2). Kết quả cho thấy, có 7/19 mẫu nghiên cứu thể hiện khả năng ức chế trên cả hai dòng tế bào ung thư SK-LU-1 và HepG2 bao gồm Microcystis aeruginosaNA03,Scenedesmus acuminatusNA04,Anabaena spNA05,A. circinalisNA06,Spirulina platensisNA12,S. maximaNA13và Microcystis sp.NA14với giá trị IC50 trong khoảng 35 - 95 μg/mL (SK-LU-1) và 42 - 86 μg/mL (HepG2). Đáng chú ý là các mẫu vi tảo Spirulina platensis NA12và S. maxima NA13và Microcystis sp.NA14gây độc tế bào mạnh với IC50 trong khoảng từ35 - 58 μg/mL (SK-LU-1) và 42- 52 μg/mL (HepG2). Nghiên cứu này không chỉ có ý nghĩa đối với việc cung cấp thêm tư liệu về nguồn vi tảo ở Nghệ An, mà còn là cơ sở khoa học để định hướng việc nuôi trồng vi tảo để khai thác, ứng dụng vào phát triển các thuốc có tác dụng chống ung thư. Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới